CẬP NHẬT VỀ DỊCH TỄ CỦA PCV2 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

CẬP NHẬT VỀ DỊCH TỄ CỦA PCV2 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Sergio Lopez Soria & Joaquim Segales

PCV2 có phải là virus mới không?

Chúng ta có những kiến thức về sự tồn tại của PCV2 kể từ năm 1998, trong khi kết quả nghiên cứu về nguyên nhân các ổ dịch lâm sàng do PCV2 gây ra được ghi nhận vào năm 1991. Những ổ dịch này chủ yếu gây ra hậu quả là heo chậm lớn ở gian đoạn heo choai và tăng tỷ lệ chết ở giai đoạn heo cai sữa và giai đoạn bắt đầu nuôi thịt, và tên của tình trạng bệnh này là “Hội chứng còi cọc sau cai sữa – PMWS” (Hiện tại đang được đề nghị gọi là bệnh toàn thân liên quan đến PCV2 hay PCV2-SD). Những ổ dịch chính của PCV2 ở châu Âu và châu Á từ 2004 – 2007, trong khi đó ở châu Mỹ 2004-2007. Mặt dầu vậy, chúng ta có những bằng chứng về việc tồn tại của những gia súc bị nhiễm PCV2 ít nhất là từ năm 1962, và gia súc bị PCV2-SD ít nhất là năm 1985.

Có phải PCV2 là thường thấy không?

Kể từ khi được miêu tả năm 1998, PCV2 có mặt ở tất cả các nước, chứng minh rằng nó là virus có khắp mọi nơi trên thế giới. Hầu như 100% trại chăn heo thương mại bị nhiễm PCV2 và hầu như tất cả heo có huyết thanh dương tính với PCV2 ở cuối giai đoạn nuôi thịt. Phân bố của bệnh liên quan đến PCV2 (PCV2-SD) được miêu tả ờ hình 1.

Hình 1. Những nước đã được chẩn đoán có PCV2-SD (màu vàng)

world map

 

PCV2 lây truyền như thế nào?

Heo bị nhiễm PCV2 phát tán virus trong nhiều đường truyền lây, virus được tìm thấy trong xoang mũi, trong dịch họng, trong dịch phế quản, nước bọt, dịch mắt, phân, nước tiểu, sữa và tinh dịch. Con đường truyền lây chính là đường mũi miệng, mặc dù PCV2 tồn tại tốt trong môi trường và ngay cả có thể được lây truyền qua không khí.

Ở trại, heo giống (nái, nọc) là những động vật duy trì mầm bệnh và truyền lây nó cho con con, thường là truyền theo đường ngang trong quá trình nuôi con. Mặt dù vậy, người ta cũng phát hện rằng có sự lây truyền bệnh theo chiều dọc trong nhóm gia súc.

Tiềm năng lây bệnh do tinh dịch chỉ được tìm thấy trong điều kiện thí nghiệm, sự truyền lây từ tinh dịch sang heo con trong bụng xảy ra sau khi cấy truyền tinh bị nhiễm PCV2 hoặc sau khi thụ tinh với tinh dịch nhiễm PCV2 (tinh thí nghiệm) heo nái bị các bệnh về sinh sản liên quan đến PCV2. Cho đến nay, chưa có tài liệu nào miêu tả sự nhiễm bệnh trên heo nái hoặc phôi thai do thụ tinh bằng tinh dịch nhiễm PCV2 tự nhiên. Như vậy kinh nghiệm cho thấy sự nhiễm bệnh do tinh dịch không thường xuyên và không dễ xảy ra bởi vì nồng độ virus thông thường trong tinh dịch không đủ cao để gây ra sự nhiễm bệnh.

Điều gì liên quan đến những biểu hiện bệnh gần đây?

Giải thích việc PCV2, một virus tồn tại khắp nơi, nhưng lại làm xuất hiện bệnh dịch theo cách tương đối bất ngờ và mang tính toàn cầu là một điều không dễ dàng. Một khả năng rất có thể là có nhiều mặt khác nhau của chăn nuôi heo và thương mại heo quốc tế có thể là một phần trong lời giải thích. Mặc dù vậy, điều chúng ta biết hôm nay là sự thay đổi trong biểu hiện bệnh lâm sàng, từ bệnh lác đác chuyển sang bệnh dịch được cho là liên quan đến sự thay đổi xu hướng kiểu gen từ PCV2a đến PCV2b. Một ví dụ cho tình huống này là số liệu thu thập từ Tây Ban Nha được trình bày trong hình 2. Mặc khác, một số nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng gây ra bệnh sinh sản của PCV2b cao hơn PCV2a.

Hình 2. Tần xuất xuất hiện của PCV2a và PCV2b ở Tây Ban Nha

pcv2

In this sense, a curious datum is the existence of a cross protection that genotype “a” confers against genotype “b”, because the commercial vaccines that exist currently are based on virus with the first genotype.

Theo cách nghĩ này, số liệu cho thấy có sự tồn tại của bảo hộ chéo giữa type “a” cho type “b” bởi vì tất cả các vaccine thương mại hiện tại đều là virus type “a” nhưng rất hiệu quả trong kiểm soát PCV2.

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc xuất hiện của các bệnh do Circovirus (PCVDs)

Biểu hiện lâm sàng của bệnh ở gia súc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như tuổi, bảo hộ của miễn dịch thụ động, chủ động, áp lực mầm bệnh, lượng virus trong từng cá thể, con đường truyền lây và tình trạng sinh lý (thời kỳ mang thai) cũng như sự đồng nhiễm và điều kiện môi trường. Do đó nhiều nghiên cứu dịch tễ đã mô tả những yếu tố rủi ro liên quan đến sự phát triển của PCV2-SD được thể hiện ở bảng 1 (chúng ta cần làm rõ rằng đây là sự biên soạn lại của các kết quả từ nhiều nghiên cứu khác nhau, thường là các nghiên cứu đi tìm các yếu tố liên quan để giải thích vì sao bệnh bị kích hoạt vì rất khó để giải thích chỉ riêng PCV2 có thể gây ra bệnh. Có một số kết quả không đúng). (Ngày nay chúng ta đã có vaccine PCV2 nên sự một số yếu tố không còn quan trọng như thời chưa có vaccine).

Bảng 1. Những yếu tố liên quan đến việc tăng hay giảm rủi ra trong phát triển PCV2-SD

 

Những yếu tố làm tăng rủi ro PCV2-SD

Những yếu tố làm giảm rủi ro PCV2-SD

PCV2

  • Nhiễm bởi PCV2b
  • Đàn bị nhiễm sớm
  • Heo nái bị nhiễm PCV2 hoặc no62ng độ kháng thể chống PCV2 trong máu thấp
  • Áp lực PCV2 cao
  • Nhiễm bệnh với mức độ virus nhiều

Cá thể:

  • Giống Landrace mẫn cảm hơn Duroc, Large White và Pietrain
  • Heo con của đực giống Duroc x Large White mẫn cảm hơn từ đực giống Pietrain x Large White
  • Heo con có khối lượng sơ sinh, cai sữa và khối lượng lúc bắt đầu nuôi thịt thấp
  • Heo đực thiến

Chuồng trại

  • Quy mô (>400 nái)
  • Giai đoạn cai sữa với chuồng rộng (>= 7.8 m2)

Chăm sóc

  • Tỷ lệ ghép heo cao trong chuồng nái đẻ
  • Lấy tinh tại trại và gieo tinh nhân tạo (Các nghiên cứu khác nhau có kết quả mâu thuẫn nhau)
  • Cai sữa sớm (<21 ngày tuổi)
  • Lọc heo sau cai sữa nhiều theo tuổi và khối lượng
  • Liên tục có heo sau cai sữa

Yếu tố đồng nhiễm/tiêm vaccine

  • Nhiễm PRRSV
  • Nhiễm parvovirus (PPV)
  • Nhiễm Mycoplasma hyorhinis
  • Nhiễm Mycoplasma hyopneumoniae
  • Tiêm phòng PRRSV cho heo hậu bị or heo con
  • Tiêm phòng Mycoplasma hyopneumoniae (Chỉ đúng một số vaccine)
  • Tiêm phòng tách riêng PPV và Erysipelas cho heo hậu bị
  • Têm phòng APP
  • Tiêm phòng CSF
  • Heo nái có các tổn thương ở cổ do kỹ thuật tiêm chích kém gây ra

An toàn sinh học

  • Ở trong vùng có các trại khác bị nhiễm PCV2-SD (bán kính dưới 3 km)

Trang thiết bị chuồng trại

  • Tắm sát trùng tại trại
  • Hố sát trùng giữa những chuồng thịt

Chăm sóc

  • Nuôi heo hậu bị tại trại
  • Nuôi heo nái chửa theo nhóm
  • Dùng oxytocine trong quá trình đẻ
  • Cai sữa các heo nái theo cùng ô
  • Cai sữa heo ở khối lượng cai sữa lớn hơn
  • Nhốt heo sau cai sữa theo giới tính
  • Cho heo mới cai sữa ăn plasma
  • Để chuồng trống nhiều hơn 4 ngày cho heo cai sữa và nhiều hơn 5 ngày cho heo nái

Điều trị/tiêm vaccine

  • Định kỳ điều trị ngoại kí sinh trùng
  • Tiêm phòng viêm teo mũi và E.coli cho heo nái

An roàn sinh học

  • Cách ly heo con/heo nái khi vào trại
  • Thay quần áo, ủng khi vào trại
  • Không tiếp xúc với heo trại khác trong vòng 3 ngày trước khi vào trại