PHÒNG NGỪA VÀ CHĂM SÓC GÀ ĐẺ TRONG MÙA NÓNG

Ngoài các nguyên nhân thường thấy là do bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm thì còn một số vấn đề mà người chăn nuôi ít chú ý. Đó chính là vấn đề chăm sóc – quản lý và phòng bệnh cho gà đẻ theo mùa, đặc biệt là trong mùa nóng. Chăm sóc – quản lý là vấn đề quan trọng để đạt được lợi nhuận tối đa trong chăn nuôi gà đẻ trứng.

Stress nhiệt là yếu tố quan trọng trong mùa khô vì nhiệt độ nóng làm gà đẻ trứng kém ăn cùng với việc giảm năng xuất trứng cũng như khối lượng trứng.

  • 32 – 35ºC: giảm ăn mạnh, trọng lượng giảm . Gà ít vận động do không đủ năng lượng và có triệu chứng thở mạnh và nhanh (rướn thẳng cổ, há mỏ để thở).
  • 35 – 38ºC: gà tiếp tục giảm ăn nhưng gà không đủ năng lượng vận động để lấy thức ăn, tỷ lệ đẻ giảm rõ rệt. Gà ít vận động, hay nằm một chỗ, thường xuyên uống nước và uống nhiều nước.
  • Trên 38ºC: gà không còn năng lượng, ít vận động và tỷ lệ chết cao.

Đối với hệ thống chuồng lạnh, do nhiệt độ và tiểu khí hậu trong chuồng nuôi được ổn định. Vì thế, mặc dù nhiệt độ bên ngoài môi trường tăng cao cũng không làm ảnh hưởng đến sản lượng trứng nhiều. Khi gà bị stress nhiệt, ở trại cuồng hở bị thiệt hại đáng kể. Thực tế, sản lượng trứng giữa chuồng lạnh và chuồng hở chênh lệch nhau khoảng 7% – 10% sản lượng trứng.

Các yếu tố gây stress nhiệt

a. Nhiệt độ

  • 13 – 18ºC: gà bị lạnh và ít vận động. Một phần năng lượng dành cho sản xuất trứng phải dành cho sưởi ấm. Vì thế, sản lượng trứng bị giảm.
  • 18 – 24ºC: đây chính là nhiệt độ lý tưởng cho gà đẻ sản xuất tốt.
  • 24 – 30ºC: gà có hiện tượng giảm ăn và giảm tỷ lệ đẻ. Nếu gà được ăn thức ăn chất lượng tốt thì ít bị ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ.
  • Trên 30ºC: tỷ lệ vỏ trứng xấu tăng
  • 30 – 32ºC: gà ăn giảm. Vì giảm ăn nên tăng trọng giảm, sản lượng trứng và trọng lượng trứng cũng giảm.
  • Ở hệ thống chuồng lạnh, nhiệt độ trong chuồng nuôi ổn định trong khoảng 24 – 28ºC. Các triệu chứng bị stress nhiệt hầu hết đều bị tác động rất ít như: giảm ăn, giảm trọng lượng cơ thể và trọng lượng trứng, tăng tỷ lệ chất. Thức tế thì tỷ lệ chết ở chuồng lạnh đều bằng với tiêu chuẩn thực tế và thấp hơn so với chuồng hở trong khoảng 5% – 7%.

b. Ẩm độ
Thông thường, nhiệt độ môi trường và ẩm độ luôn đi đôi với nhau. Trong chăn nuôi gà đẻ, việc tạo điều kiện và môi tối ưu nhất cho gà là góp phần làm tăng năng suất và lợi nhuận.

Nếu %RH nhỏ hơn 50% thì gà phát triển bình thường.

Nếu %RH lớn hơn 70% thì gà bắt đầu yếu dần.

Các phương pháp giảm stress nhiệt

Nuôi nhốt gà với mật độ hợp lý nhằm làm tăng độ thông thoáng khí giúp thoát nhiệt nhanh. Khi nuôi nhốt gà với mật độ cao, gà sản sinh nhiệt năng cao hơn so với môi trường không khí xung quanh, cộng với nhiệt độ môi trường cao và độ thông thoáng kém sẽ gây stress nhiệt.

Làm giảm nhiệt độ nhờ vào tiếp xúc với vật có nhiệt độ thấp hơn. Ví dụ: làm chuồng sàn.

Làm mát nhờ hệ thống quạt và phun hơi nước tự điều chỉnh nhiệt độ môi trường tối ưu cho gà.

Chăm sóc gà đẻ mùa nóng

Không thả gà con hậu bị có trọng lượng thấp vì trọng lượng thấp gà yếu, ăn ít và trọng lượng gà ở 17 tuần thấp. Vì thế, gà đẻ trọng lượng nhỏ, tỷ lệ đẻ thấp và trứng nhỏ.

Mùa nóng nên lựa chọn cám có thành phần chất béo cao hơn chất đạm, protein thô nhỏ hơn 17% và năng lượng phải đạt hơn 2900 kcal/kg cám. Cần bổ sung thêm một số axit amin cần thiết cho gà. Ví dụ : lysine, methionine,…Bổ sung hàm lượng vitamin và khoáng thêm trong cám.

Bổ sung vitamin C vào nước uống trong những ngày nắng nóng. Không cho ăn cám vào thời gian nóng nhất trong ngày – khoảng thời gian 11:30 – 14 giờ – nên để trống máng ăn
Làm mát nước uống cho gà và tạo nhiệt độ chuồng nuôi tối ưu cho gà. Ví dụ: không để bồn chứa nước ngoài nắng, quạt, phun sương, hệ thống chuồng lạnh,…