user

Kỹ thuật

ĐIỀU HÒA ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH ĐỂ TĂNG CƯỜNG ĐỀ KHÁNG VỚI BỆNH CHO CÁ VÀ TÔM

Bệnh, mầm bệnh và các mối tương quan

Dch bnh đã dn tr thành cơn ác mng vi nông dân khi chúng gây thit hi kinh tế nng n và đe da đến sinh kế ca bà con. Đng thi, các ý kiến còn ch ra rng bnh không ch đơn gin là s kết hp gia vt ch và mm bnh. Năm 1955, Dubos gii thích chắc chắn rng các căn bnh yêu cu nhiu hơn là s ch s hin din ca mm bnh. Sau đó, vào năm 1973, Sniezko, mô t li s tương tác ca vt ch và mm bnh vi môi trưng xung quanh đ giúp gii thích chính xác hơn cơ chế bnh xy ra trên cá. Tuy nhiên, ý nghĩa ca khái nim đơn gin này không phi lúc nào cũng đưc hiu đúng và áp dng vào vic kim soát dch bnh trên thy sn. Mc dù biu đ Venn ca Sneizko (Môi trưng/vt ch/mm bnh Bnh) tuy hu ích nhưng li quá đơn gin. Các mô hình khác đã đưc phát trin đ giác thích mi tương quan gia mm bnh và bnh vi mt gii hn nht đnh: phương pháp tp trung vào mm bnh. Nhng nhn xét ngn gn da trên mi quan h nhân qu này ch ra mt cách rõ ràng rng “mt tác nhân = mt bnh” là quá đơn gin và vic xác đnh mm bnh, không ging như chn đoán bnh vì mt triu chng có th đưc gây ra bi nhiu mm bnh khác nhau và ngưc li.

Hiu biết v s phc tp ca bnh không ch quan trng đ xác đnh nguyên nhân mà còn giúp ích trong quá trình kim soát bnh. Ging như Sun-Tzu đã tng phát biu rng: “Nếu bn hiu v k thù và hiu chính mình, bn s không cn lo s kết qu ca mt trăm trn chiến. Nếu bn ch biết chính mình mà không hiu rõ k thù, c mi chiến thng mà bn giành đưc, bn cũng s chu mt tht bi đi kèm. Nếu bn không biết gì c, bn s thua trong mi trn chiến.

Gn đây, vic tp trung gim hoc loi b các yếu t gây stress đã đưc quan tâm trong quá trình kim soát dch bnh, điều này đòi hi phi quan tâm đến bn cht ca s tương tác gia các yếu t gây stress và đ mẫn cm vi bnh. Hu hết các nông dân đã có kinh nghim về mi quan h trc quan gia stress và dch bnh. Hình 1 cho thy t l chết trong đàn cá sau khi vn chuyn bng xe ti trong sut 16 gi. T mt đàn cá khe mnh, đã b sc nhit và oxy trong sut quá trình vn chuyn. Những tổn thất nhỏ lập tức xuất hiện (4-5%), đây có l là hu qu ca vic không th chng chi đưc vi sc nhit và sc oxy; tuy nhiên, t l chết đã tăng lên mà không phát hin đưc mm bnh c th. Tt c các bng chng lâm sàn đu ng h gi thuyết v s bùng phát mm bnh cơ hi trong đàn do hu qu ca quá trình c chế min dch liên quan đến stress.

Từ những năm 1980, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để chỉ ra mối tương quan giữa stress và độ mẫn cảm với bệnh, điều này dẫn đến nhận đình rằng stress làm cho các căn bệnh thêm nghiêm trọng hơn.


Hệ miễn dịch và phản ứng với stress

Trong nhiều trường hợp, phản ứng của hệ miễn dịch với stress là phản ứng thích nghi, cung cấp nguồn lực để đối phó với tác nhân stress và hậu quả tức thời của nó. Điều này có thể mang lại lợi ích cho vật nuôi khi mối liên kết giữa stress cấp tính và phản ứng miễn dịch cung cấp các kích thích nhỏ để đối phó với các chấn thương hoặc bệnh truyền nhiễm (Peters, 1991; Demers & Bayne, 1997; Ruis & Bayne, 1997; Weyts và cộng sự, 1998). Liên kết này được trung gian bởi cùng trục hạ đồi – tuyến yên – liên thận tương tự như trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA) ở động vật hữu nhủ trong việc sản sinh ra cortisol và noradrenaline. Mặc dù noradrenaline chịu trách nhiệm kích thích trung gian tiền viêm, nhưng nó lại được điều hòa bởi cortisol trong phản ứng chống viêm. Điều này dẫn đến sự thấu hiểu rõ ràng hơn về cơ chế ức chế miễn dịch trong trường hợp stress mãn tính, cấp tính và mất kiểm soát (Peters & Schwarzer, 1985; Maule và ctv., 1989; Schreck, 1996; McEwen, 2003; McEwen & Wing eld, 2003). Tuy nhiên, ý nghĩa của ức chế miễn dịch và tăng mẫn cảm với bệnh phức tạp hơn nhiều, do thiếu các nghiên cứu và sự quan tâm về stress trên thủy sản so với động vật hữu nhủ. Các nhà miễn dịch học chỉ thực sự tập trung vào hệ miễn dịch của con người, chủ yếu dựa vào các miễn dịch thích nghi, trong khi tỷ lệ và sự đa dạng của động vật không xương sống (chiếm 98% các loài động vật) và thủy sản (hơn một nữa số động vật có xương sống), ngoài ra, sự tồn tại của chúng qua lịch sử tiến hóa (Coelacanth hầu như không thay đổi trong suốt 400 triệu năm, Johanson và cộng sự, 2006), chứng minh rằng vượt xa mọi sự nghi ngờ hợp lý, miễn dịch tự nhiên vẫn hoạt động hiệu quả. Kết quả là, một số khía cạnh của hệ miễn dịch trên thủy sản không dễ hiểu như khi so sách với động vật hữu nhủ. Lysozyme, mặc dù ít hoạt động trong hệ miễn dịch của cá, nhưng vẫn là một trong những chỉ số miễn dịch đáng tin cậy khi đề cập đến stress trên cá (Grinde và cộng sự, 1988), trong đó, stress cấp tính đang có xu hướng điều hòa tăng, stress mãn tính thì lại có hiệu ứng ngược lại.

Tuy nhiên, mức độ mẫn cảm với bệnh tăng liên quan đến các phản ứng với stress không chỉ qua miễn dịch trung gian. Cortisol cũng là suy yếu khả năng chữa lành các biểu mô (Roubal & Bullock, 1988; Johnson & Albright, 1992) và phản ứng stress có thể dẫn đến những thay đổi trong hành vi của cá. Phản ứng hành vi trong các trường hợp stress có thể rất đa dạng và phụ thuộc vào bản chất và hướng hành vi của động vật. Những phản ứng bao gồm lẩn trốn, tập hợp thành đàn, đổi màu, đổi tư thế hoặc kiểu bơi, thay đổi cách ăn (Huntingford và cộng sự, 2006). Các phản ứng hành vi có thể lần lượt ảnh hướng đến độ mẫn cảm với bệnh thông qua các tổn thương lý tính, thay đổi sự hấp thu của hóa trị liệu, đường truyền hoặc tốc độ lây truyền mầm bệnh. Do đó, kháng sinh không thể điều trị cho cá đã nhiễm bệnh, mà chỉ có thể dùng phương pháp cho ăn chủ động theo từng cá thể. Lấy một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn làm ví dụ, nếu quần thể vật chủ đang có một phần nhỏ cá chưa nhiễm bệnh bị stress mà vẫn được cho ăn, thì sẽ có nhiều cá thể duy trì độ mẫn cảm với bệnh, tăng nguy cơ nổ ra dịch bệnh toàn đàn. Thêm vào đó, tác nhân gây stress còn có thể làm cho từng cá thể mẫn cảm hơn với bệnh truyền nhiễm.

Giả thuyết cho rằng stress làm cho bệnh dịch trở nên nghiêm trọng hơn đã được chấp nhận trong một thời gian dài và chúng ta bắt đầu hiểu hơn các cơ chế nền tảng của nó. Mặc dù, vẫn còn nhiều khó khăn để dự đoán ảnh hưởng của tác nhân stress lên sức khỏe của toàn đàn dưới một tình huống cụ thể, chúng ta vẫn có thể dự đoán được hành vi tổng thể của chúng. Trong một số trường hợp, mặc dù đã có nhiều bằng chứng, nhưng lại có quá nhiều sự chú ý đến các mầm bệnh hơn là tập trung kiểm soát bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Ngăn ngừa stress, các tiếp cận chủ động.

Bằng cách cho tôm cá ăn những phân tử giúp điều hòa hệ miễn dịch trong khi cá đang khỏe mạnh để chuẩn bị cho các phản ứng stress trước những thách thức trong tương lai, đây là chiến lược thích hợp nhất để duy trì mục tiêu nuôi trồng thủy sản ổn định, sức khỏe và năng suất.

Với nhiều năm nghiên cứu lợi ích từ tảo biển, Olmix đã tìm ra được các chuỗi polysaccharides sulfat hóa có đặt tính điều hòa miễn dịch và chống stress như MSP®IMMUNITY. Phân tử này kích thích màn thụ thể của nhiều nhóm tế bào khác nhau để tạo ra phản ứng miễn dịch tự nhiên bao gồm các phản ứng chống viêm và kháng viêm. Thay vì một chất kích thích miễn dịch có thể làm giảm phản ứng stress, MSP®IMMUNITY đóng vai rò là chất điều hòa miễn dịch để ngăn ngừa các tác động tiêu cực của stress. Bổ sung cho tôm cá sản phẩm có chứa.

Hình 1: Tỷ lệ sống sót của cá Juvenile Tilapia sau 16 giờ mô phỏng vận chuyển trong túi nhựa

Hình 2: Tỷ lệ sống của cá bơn sau khi tiêm vi khuẩn Edwardsiella tarda,  không bổ sung hoặc có bổ sung thêm MSP®IMMUNITY.

Hình 3: Tỷ lệ sống sót của tôm chân trắng sau khi tiêm WVVS, không bổ sung hoặc có bổ sung thêm MSP®IMMUNITY.

MSP®IMMUNITY mang lại khả năng chống stress cao hơn và chống lại nhiều mầm bệnh truyền nhiễm hơn như trong biểu đồ 1,2 và 3. Olmix đã phát triển dòng sản phẩm dạng lỏng, StimSea và Algimun – là một sản phẩm dạng bột có chứa hoạt chất này để cung cấp công cụ mạnh mẽ, hiệu quả và dễ dàng cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và nông dân đối phó với sự phức tạp của các bệnh trong nuôi trồng thủy sản.