user

BỆNH MAREK

Bệnh Marek là một bệnh truyền nhiễm với tốc độ lây lan nhanh, là mối quan tâm lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm. Hiện nay, bệnh Marek đã có mặt ở hầu hết các châu lục trên thế giới.
Căn bệnh

  • Gallid Herpesvirus 2 (serotype 1): chủng có khả năng tạo khối u.
  • GallidHerpesvirus 3 (serotype 2): không gây bệnh tích, không tạo khối u..
  • MeleagridHerpesvirus 1 (serotype 3): chủng gây bệnh tích nhưng không tạo

khối u như HVT (Herpesvirus of turkey).

Sức đề kháng

  • Vi – rút trong nang lông được phát tán trong không khí theo nang lông hoặc lông.
  • Vi – rút có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài hơn 6 tháng và có thể lây bệnh qua không khí 1 km.
  • 4 ngày ở 250C, 18 giờ ở 370C, 30 phút tại 560C và 10 phút ở 600C.
  • Những muối của amoniac, phenol không có khả năng tiêu diệt MDV nhưng chúng dễ bị tiêu diệt formalin 0,5 %, iod 1 % .

Triệu chứng

Thể nãn tính

  • Thường xuất hiện ở gà 2 – 7 tháng, tỷ lệ chết 10 – 15 %, nung bệnh 3 – 4 tuần
  • Mống mắt có màu da cam chuyển sang mống mắt có màu xám đen

Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ, ngón chân chụm lại với nhau, sau đó liệt hoàn hoàn, liệt cánh một hay hai bên.

Thể cấp tính

  • Chủ yếu trên gà 6 – 9 tuần tuổi (đôi khi cũng xuất hiện trên gà 3-4 tuần tuổi)
  • Tỷ lệ chết cao hơn thể mãn tính 10 – 30 %
  • Gà ít có triệu chứng điển hình, chết đột ngột, gà suy yếu, liệt rồi chết

Bệnh tích đại thể

Dây thần kinh đùi sưng to gấp 4 – 5 lần, mất vân óng ánh, có màu trắng đục, dễ đứt
Gà bệnh Marek xuất hiện các khối u trên các cơ quan nội tạng, da và cơ.

Chẩn đoán phân biệt với bệnh Leuco trên gà qua giải phẩu đại thể

Gà bệnh Marek thì tổng số gà chết rất cao, có khối u ở da và cơ quan nội tạng. Khối u không có ranh giới với tổ chức bình thường và lát cắt khô, không đều màu, đôi khi có điểm hoại tử, tụ huyết hoặc xuất huyết.

Bệnh Lơ cô có khối u có ranh giới rõ ràng với tổ chức còn lại, lát cắt khối u bóng, ướt màu đều, không có điểm hoại tử. Ngoài ra khối u của bệnh Lơ cô thường ở buồng trứng và túi bursa nhiều hơn là ở các cơ quan khác.
Chẩn đoán bệnh Marek như nuôi cấy phân lập vi – rút, phản ứng khuếch đại gien (Polymerase chain reaction, PCR) thì kết luận sẽ chính xác hơn.

Phòng bệnh

  • Quản lý đàn tốt, sự mang trùng vi – rút Marek kéo dài là do nuôi chung nhiều loại gà với độ tuổi khác nhau và độ cảm nhiễm khác nhau.
  • Biện pháp an toàn sinh học tốt sẽ làm giảm sự phơi nhiễm và sự hiện diện của gien đề kháng.
  • Bệnh này không có thuốc điều trị, do đó chủ yếu phòng bệnh bằng vắc – xin.
    Vắc – xin dùng cho gà một ngày tuổi và tiêm dưới da.

Sơ lược về các loại vắc – xin phòng bệnh Marek trên thị trường hiện nay

  • Marek serotype 1 (Merial) là vắc – xin sống chủng Rispens nhược độc trong môi trường tế bào, được xem là có khả năng đặc biệt để bảo vệ gà chống lại MDV độc lực cao.
  • Vắc – xin Marek serotype 3 (Merial) là vắc – xin sống, chủng HVT Cryomarex Rispens + HVT (Merial) là vắc – xin sống cải tiến, chủng Rispens và HVT.
  • Vaxxitek HVT + IBD (Merial) là vắc – xin vec-tơ sống, phòng bệnh Marek và Gumboro trên gà. Vắc – xin này có thể tiêm trứng đã ấp 18 – 19 ngày hoặc tiêm dưới da cho gà 1 ngày tuổi